Vấn đề xử lý nước thải của các nhà hàng hiện nay

Công nghệ METCông nghệ MET

22:20 - 15/05/0

Sự phát triển của ngành dịch vụ nhà hàng là rất đáng mừng cho nền kinh tế nước ta. Nhưng trái lại nước thải từ các nhà hàng này chứa nhiều thành phần các chất hữu cơ và chất rắn do các hoạt động sinh hoạt của nhà hang như các hoạt động từ nhà ăn, nhà vệ sinh. Hàm lượng các chất này cao và với lưu lượng lớn sẽ gây ô nhiễm cho nguồn tiếp nhận sông, hồ….

Do đó, việc xử lý nước thải của nhà hàng quán ăn là cần thiết và rất cấp bách. Tuy nhiên khách sạn nằm trong khu dân cư đông đúc nên việc tận dụng hiệu quả diện tích đất là việc cần phải quan tâm.

Mời các bạn vào trang chủ về Xử lý nước MET

Thành phần củ chất thải

Nước thải nhà hàng quán ăn có thành phần chủ yếu là các chất vô cơ, hữu cơ và vi sinh vật trong đó: Chất vô cơ: chiếm khoảng 50% tổng thành phần nước thải. Chủ yếu là cát, đất sét, các axit và bazo vô cơ. Nước thải có thành phần hóa học chủ yếu là sắt, magie, canxi….
Chất hữu cơ: chiếm khảng 60% tổng thành phần nước thải. Chủ yếu là thực phẩm thừa, phân hữu cơ. Các thành phần hóa học chủ yếu có protein, carbonhydrat, các chất béo dầu mỡ. Vi sinh vật: chiếm 1 phần nhỏ nhưng có ảnh hưởng đến tính chất nước thải: vi khuẩn, vi rút, nấm, rong tảo…. Cơ chế hoạt động: Khi nước thải đi vào bể thổi khí, các bông bùn hoạt tính vi sinh được hình thành mà hạt nhân của nó là các phần tử cặn lơ lửng. Các loại vi khuẩn hiếu khí đến cư trú và phát triển dần tạo nên các bông bùn và tiếp tục hấp thụ các chất hữu cơ hoà tan, keo… Trong bể aeroten lượng bùn hoạt tính tăng dần lên và được tách ra tại bể lắng đợt hai. Một phần bùn hoạt tính được đưa về bể aeroten để tham gia một chu trình xử lý nước thải mới.


Cơ chế hoạt động của công nghệ xử lý nước

Kênh ôxy hoá hoạt động theo nguyên lý thổi khí kéo dài tương tự như Arotank truyền thống. Các guồng quay được bố trí để tạo thành các vùng hiếu khí và thiếu khí luân phiên thay đổi để tạo điều kiện xử lý trong nước thải. Trong vùng hiếu khí diễn ra quá trình ôxy hoá chất hữu cơ cụ thể là BOD, COD và vùng thiếu khí là nitrat hoá, trong vùng thiếu khí diễn ra quá trình hô hấp kỵ khí và khử nitrat sẽ diễn ra tại đây.
Hiệu quả xử lý: Hiệu quả khử BOD của kênh ôxy hoá tuần hoàn đạt đến 85 – 95% theo hàm lượng nước thải, khả năng khử nitơ đạt mức 40 – 80% theo nồng độ. Phạm vi ứng dụng: áp dụng cho công suất trên 300m3/ngày, Kênh ôxy hoá tuần hoàn có lượng bùn dư ít đã được ổn định tương đối nên rất nhẹ nhàng trong khâu xử lý bùn dư, hiệu quả xử lý BOD cao và rất tốt, các chất dinh dưỡng được khử đáng kể, quản lý vận hành không phức tạp. Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất khiến nó không được áp dụng rộng rãi là do thời gian lưu nước lớn do đó đòi hỏi diện tích chiếm đất lớn, công trình lại xây hở do đó hạn chế khi sử dụng cho quy mô lớn và không giữ được mùi hôi. Tuy nhiên nếu có diện tích lớn thì quy trình xử lý của nó là rất rất tốt và hiệu quả xử lý cao

Mới các bạn đến với các công nghệ khác trong vấn đề xử lý chất thải 

-------https://congnghexulynuocmet.com.vn/dich-vu/

0 bình luận
-
Thông báo
Giúp chúng tôi hiểu điều gì đang xảy ra

Có vấn đề gì vậy?