TOP 35+ Bài thơ của Nguyễn Nguyễn hay và được yêu thích nhất

kimchungbaybykimchungbayby

14:47 - 29/03/0

TOP 35+ Bài thơ của Nguyễn Nguyễn hay và được yêu thích nhất. Nguyễn Khuyến tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễu Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam Ninh nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam . Ông mất ngày 5 tháng 2 năm 1909 tại Yên Đổ.

Dưới đây là 35+ bài thơ hay của Nguyễn Khuyến được chúng tôi sưu tầm và chọn lựa. Mời bạn đọc cùng Gocbao.com thưởng thức những vần thơ bất tử của thi sĩ tài ba Nguyễn Khuyến các bạn nhé!

Tham khảo thêm: Tuyển Tập 25+ Bài Thơ Của Nguyễn Khuyến Hay Nhất Được Yêu Thích Nhất Bạn Không Nên Bỏ Qua

Thơ Nguyễn Khuyến 1: Bạn Đến Chơi Nhà

Đã bấy lâu nay bác tới nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao
sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.

Đây là một trong những bài thơ hay về tình bạn trong sáng chân thành thắm thiết của Nguyễn Khuyến. Bài thơ làm nổi bật một nét đẹp trong cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến. Ông xứng đáng là một nhà thơ của làng quê Việt Nam. Tình bạn cao cả tuyệt vời của nhà thơ sẽ là bài học giúp ta tìm và cảm nhận được những tình cảm thiêng liêng đáng quý đó.

Thơ Nguyễn Khuyến 2: Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước ocuaso.com/tag/gio — gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Thu điếu viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Cảnh thu được miêu tả trong hầu hết 8 câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối bài. Cảnh trong bài vẫn là trời nước, gió, trúc — những thi liệu quen thuộc nhưng hồn thơ thì đã vượt ra khỏi khuôn sáo thi tứ cổ điển .

Thơ Nguyễn Khuyến 3: Khóc Dương Khuê

Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;
Có khi tầng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang;
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đấu thăng chẳng dám tham trời;
Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can,
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày;
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Vội vàng sao đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo những hững hờ,
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Những câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc lên nghe thật buồn bã, ngao ngán. Nói “buổi dương cửu” để chỉ thời kì loạn lạc khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà thơ coi đó như là một vận hạn mà đất nước và con người phải trải qua. Không làm gì được trước vận hạn ấy, nhà thơ chỉ còn một cách lựa chọn là rời bỏ công danh, chẳng còn dám tham cái lộc trời “thăng đấu” của kẻ làm quan.

Thơ Nguyễn Khuyến 4: Thu Ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.

Cả bài thơ, ngoài đầu đề “Thu ẩm” ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này. Các từ láy: le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh… với các từ “rượu”, “chén”, “say nhè” — cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm.

Thơ Nguyễn Khuyến 5: Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Thu vịnh là một bài thơ hay viết về mùa thu cua Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu. Nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động.

Thơ Nguyễn Khuyến 6: Muốn Lấy Chồng

Bực gì bằng gái trực phòng không?
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng.
Trên gác rồng mây ngao ngán đợi,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui, lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại, nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

Nguyễn Khuyến đặt tựa đề bài thơ là “muốn lấy chồng” ý muốn nói về việc lấy chồng của người con gái. Khi lấy chồng thì người con gái sẽ có một cuộc sống tốt hơn được thể hiện qua câu thơ “có chồng như có cánh”.

Thơ Nguyễn Khuyến 7: Làm Ruộng (chốn quê)

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Là một nhà thơ có tâm huyết, Nguyễn Khuyến bao giờ cũng cảm thấy đau đớn trước cảnh khố sở của dân tình. Những bài thơ của ông viết về cuộc sống đồng ruộng của những người dân chân lấm tay bùn cứ như là một cuốh nhật ký sống, một bức tranh hiện thực sinh động vô cùng mà cũng xót xa vô cùng

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 8: Chừa Rượu

Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa nên nỗi không chừa được.
Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa.

Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Khuyến. Mặc dù chỉ với vỏn vẹn 4 câu thơ, nhưng tác giả đã cho chúng ta thấy được tác hại của rượu, nhưng ông lại không thể “chừa” được, tức là bỏ rượu. Do vậy mà tác giả muốn khuyên chúng ta đừng dính líu vào nó.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 9: Chế Học Trò Ngủ Gật

Trò trẹt chi bay học cạnh thầy,
Gật gà gật gưỡng nực cười thay!
Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,
Mắt lại lim dim nhắp đã cay.
Đồng nổi đâu đây la liệt đảo,
Ma men chi đấy tít mù say.
Dễ thường bắt chước Chu Y đó
Quyển có câu thần vậy gật ngay.

Bài thơ “chế học trò ngủ gật” nói về hình ảnh người học trò học cạnh thấy của mình nhưng lại say “gật gà gật gưỡng” vì đã uống rượu. Vì đã có “ma men” trong người do vậy mà chẳng có thể làm gì được, ở đây tác giả muốn nói rằng có rượu, có men trong người thì chúng ta chẳng làm việc gì ra hồn.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 10: Cua Chơi Trăng

Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng,
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng.
Nghiêng mai lách ngược qua dòng biếc,
Ghé yếm bò ngang nhởn bóng hằng.
Cung quế chờn vờn hương mới bén,
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng.
Một mai cá nước cua vui phận,
Trăng muốn tìm cua, dễ được chăng?

Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Cua Chơi Trăng” của tác giả Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói về hình ảnh đêm trăng và có một cua chơi với trăng. Tác giả mượn hình ảnh con cua để chỉ con người, với nỗi niềm thể hiện rõ ràng trong bài thơ.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 11: Cuốc Kêu Cảm Hứng

Khắc khoải đưa sầu giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục đế thác bao giờ?
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó?
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

Qua “Cuốc kêu cảm hứng”, Nguyễn Khuyến đã giãi bày một tấm lòng yêu nước không nguôi, một tâm trạng đầy bi kịch: xót xa đau buồn, tủi nhục vì nước mất nhà tan. Tâm trạng ấy của nhà thơ cũng là tâm trạng của một thế hệ nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 12: Chế Ông Đồ Cự Lộc

Văn hay chữ tốt ra tuồng,
Văn dai như chão, chữ vuông như hòm.
Vẻ thầy như vẻ con tôm,
Vẻ tay ngoáy cám, vẻ mồm húp tương.
Vẻ lịch sự ai bằng thầy Cự Lộc,
Vẻ cô đầu nói móc có vài câu:
Anh chẳng sang, mà cũng chẳng giàu.
Hầu bao ních, rận bâu quanh chiếu;
Khăn nhuộm lờ lờ mùi nước điếu,
Nón sơn không méo cũng không tròn.
Quần vải thô, ngại giặt ngả màu son,
Giày cóc gặm, nhặt dây đàn khâu lấy.
Phong lưu ấy, mà tình tính ấy,
Đến cô đầu, vẫn thấy lả lơi bông,
Xinh thay diện mạo anh hùng!

Bắt chước hay nhại lại thơ Nguyễn Khuyến là điều rất khó khăn. Cái khó là ở mạch ngần ẩn kín đằng sau những câu chữ. Ngôn từ NK bình dị nhưng chứa đựng nhiều hàm ý sâu xa. Đằng sau những sắc điệu, ngữ điệu, ngôn từ biểu hiện ở bề mặt.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 13: Chợ Đồng

Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không ?
Dở trời, mựa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông ?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

Đây là một bài thơ khá nổi tiếng của Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến tả cảnh chợ Đồng với bao nỗi buồn lo, le lói một niềm ước mong cho dân nghèo khi “tin xuân tới”. Đó là tấm lòng thương dân, lo đời đáng quý.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 14: Hoài Cổ

Nghĩ chuyện đời xưa cũng nực cười,
Sự đời đến thế, thế thời thôi!
Rừng xanh núi đỏ hơn ngàn dặm,
Nước độc ma thiêng mấy vạn người.
Khoét rỗng ruột gan trời đất cả,
Phá tung phên giậu hạ di rồi.
Thôi thôi đến thế thời thôi nhỉ,
Mấy trắng về đâu nước chảy xuôi.

Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ này sau khi ông đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà. Đáng lưu ý là các chi tiết trong bài thơ đều rút ra từ cảnh vật thân thuộc quanh ông. Đường làng nhỏ hẹp uốn lượn giữa hai bờ tre trúc và vô số ao chuôm. Những mái rạ đơn sơ cùng những cây rơm cũ kĩ thấp thoáng trong vườn cây trái.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 15: Lời Gái Góa

Chàng chẳng biết gái này gái goá,
Buồn nằm suông, suông cả áo cơm.
Khéo thay cái mụ tá ươm.
Đem chàng trẻ tuổi ép làm lứa đôi.
Chàng tuổi trẻ chơi bời quên nhọc,
Gái già này sức vóc được bao?
Muốn sao, chiều chẳng được sao.
Trước tuy sum họp, sau nào được lâu?
Lấy chồng vốn nhờ câu ăn mặc,
Chẳng ngờ rằng đói rách hổ ngươi;
Vốn xưa cha mẹ dặn lời,
Tư bôn lại phải kẻ cười người chê.
Hỡi mụ hỡi, thương chi thương thế?
Thương thì hay, nhưng kế chẳng hay.
Thương thì gạo vải cho vay,
Lấy chồng thì gái goá này xin van!

Trong bài thơ này Nguyễn Khuyến có hai mảng quan trọng là kết quả của hai nguồn cảm hứng chính: trữ tình và trào phúng. Có thể xem tự trào là một mảng của thơ ca trào phúng việt Nam. Tuy chưa có một khái niệm nào rõ ràng và chính xác về tự trào nhưng qua nghiên cứu và tìm hiểu có thể đưa ra khái quát chung nhất. Tự trào là thơ làm ra để tự cười mình, đem những tâm tư, cảm nghĩ, thói xấu của mình ra để cười nhạo chế giễu.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 16: Ăn Mày

Gõ cửa làm chi quấy cả ngày
Hỏi ra mới biết lão ăn mày.
Ăn mày chớ có ăn tao nhé
Gạo kém, đồng khô thế mới rầy.

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 17: Bài Hát Ru Em

Hạ hơi hơi, hạ hời hời,
Nam nhi đứng ở trên đời,
Thông minh tai mắt là người trần gian.
Tang tình tang, tịnh tình tang,
Em thơ chị ẵm, em ngoan chị bồng.
Màn Đồng Tử, gối Ôn Công,
Lớn lên em phải ra công học hành.
Xinh ghê xinh gớm là xinh,
Tình tính tinh,
Sớm khuya cửa Khổng, sân Trình,
Dốc lòng nấu sử sôi kinh chớ rời.
Hạ hơi hơi, hạ hời hời,
Học là học đạo làm người,
Làm người phải giữ lẽ trời dám sai.
Làm trai cho đáng nên trai,
Ngày một, ngày hai,
Chớ đừng nay lại ngày mai,
Chớ đừng đi nghịch cho phai lòng vàng
Ngoan ngoan, ngoan thực là ngoan,
Bé cần học, lớn làm quan,
Khắp triều chu tử, đều làng thi thư.
Ư ư giữ khư khư,
Chiêu ư tư, tịch ư tư,
Văn chương thầy nước, thi thư báu nhà.
Ạ a a,
Ghê thậm là ghê,
Có công cách tri tu tề,
Khốn quẫn cũng biết, ngu si cũng hiền.
Khuyên khuyên khuyên thực là khuyên,
Lẻn lèn len,
Hễ mà có chí thì nên
Cầu kiều đã bắc dịp lên đấy rồi.
Đi chơi, chớ có đi chơi,
Chị khuyên em, em phải nghe lời,
Chim hằng bay,
Nga hằng lội,
Đáp cao núi Thái, tát vơi sông Thù,
Ru hời ru hỡi tình ru,
Cu cu hề cu cu,
Chèo thuyền đến bến thầy Chu,
Bút nghiên làm dấu võng dù cân đai.
Rõ bảng rõ bài,
Tranh khôi đoại giáp dễ nhường ai,
Chị Hằng Nga vốn yêu người niên thiếu,
Chuyên chuyên, em học cho chuyên,
Hi thánh hi hiền,
Kìa người tiến sĩ, trạng nguyên,
Cũng là học vấn cần chuyên những ngày.
Hay hay thế mới là hay,
Này đây này,
Cửa trời mở rộng đường mây,
Có công mài sắt có ngày nên kim.
Chị yêu em!
Nhẻm nhèm nhem,
Nắm nem không thèm,
Một nhà đầm ấm ơn trên,
Mở giòng phiệt duyệt, rộng nền tổ tông,
Sênh sang áo phượng sân rồng,
Bõ công cha mẹ vẫy vùng áo xiêm,
Em ơi em hỡi em hời!
Muốn nên tai mắt ở đời,
Thì em phải nhớ lấy lời chị ru.
Ru hời ru hỡi tình ru!

Bài thơ của Nguyễn Khuyến 18: Bóng Đè Cô Đầu

Bóng người ta nghĩ bóng ta,
Bóng ta, ta nghĩ hoá ra bóng người.
Tỉnh tinh rồi mới nực cười.
Giấc hồ ai khéo vẽ vời cho nên?
Cô đào Sen là người Thi Liễu
Cớ làm sao õng ẹo với làng nho?
Bóng đâu mà bóng đè cô,
Bỗng thấy sự nhỏ to thêm thắc mắc.
Cố hữu diệc vi thân ngoại vật,
Khán lai đô thị mộng trung nhân
Sực tỉnh ra nào biết chuyện xa gần,
Còn văng vẳng tiếng đàn lần tiếng trống.
Quân bất kiến:
Thiên Thai động khẩu cần tương tống;
Dẫu bóng ta, ta bóng có làm sao,
Thực người hay giấc chiêm bao?

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 19: Cá Chép Vượt Đăng

Cá thần vùng vẫy vượt qua đăng,
Được nước, nào ai dám rỉ răng?
Cưỡi gió giương vây lên cửa Vũ,
Xông mây rẽ sóng động vừng trăng,
Giếc, rô ngứa vẩy khôn tìm lối,
Trê, chuối theo đuôi dễ mấy thằng!
Gặp hội hoá rồng nơi chót vót
Đã lên, bay bổng tít bao chừng?

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 20: Cảm Hứng Tuổi Tác

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay,
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ!
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa? Thưa rằng được.
Chén rượu say rồi. Nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 21: Cảnh Già

Nhớ từ năm trước hãy thơ ngây,
Phút chốc mà già đã đến ngay.
Mái tóc chòm đen, chòm lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Ông ngẫm mình ông thêm ngán nỗi:
Đi đâu, giở những cối cùng chày.

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 22: Cảnh Tết

Năm ngoái, năm kia đói muốn chết,
Năm nay phong lưu đã ra phết!
Thóc mùa, thóc chiêm hãy còn nhiều
Tiền nợ, tiền công chưa trả hết.
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng,
Ngoài ngõ bi bô rủ chung thịt.
Ta ước gì được mãi như thế,
Hễ hết Tết rồi, thời lại Tết!

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 23: Châu chấu đá voi

Châu chấu làm sao dám đá voi,
Đứng xem ta cũng nực cơn cười.
Loe xoe sấn lại dương đôi vế,
Ngứa ngáy không hề động nửa đuôi.
Hay giở cuộc này ba chén rượu,
Được thua chuyện ấy một trò chơi.
Nghĩ ra ta cũng thương mình nhỉ,
Theo đít còn hơn một lũ ruồi!

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 24: Chợ Đồng

Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 25: Chơi Núi Non Nước

Chom chỏm trên sông đá một hòn,
Nước trôi sóng vỗ biết bao mòn ?
Phơ đầu đã tự đời Bàn Cổ,
Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con.
Rừng cúc tiền triều trơ mốc thếch,
Hòn câu Thái phó tảng rêu tròn.
Trải bao trăng gió xuân già giặn,
Trời dẫu già, nhưng núi vẫn non.

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 26: Cua chơi trăng

Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng,
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng.
Nghiêng mai lách ngược qua dòng biếc,
Ghé yếm bò ngang nhởn bóng hằng.
Cung quế chờn vờn hương mới bén,
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng.
Một mai cá nước cua vui phận,
Trăng muốn tìm cua, dễ được chăng?

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 27: Duyên nợ

Bao tuổi xuân xanh hỡi chị mình?
Xinh sao xinh khéo thực là xinh!
Hoa thơm chẳng muộn hương mà ngát,
Tuyết sạch không nề nước mới thanh.
Ngoài mặt đã đành son với phấn,
Trong lòng nào biết đỏ hay xanh?
Người xinh, cái bóng tình tinh cũng…
Mỗi bút một thêm một điểm tình!

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 28: Đêm đông cảm hoài

Nỗi nọ, đường kia xiết nói năng!
Chẳng nằm, chẳng nhắp, biết mần răng?
Đầu cành, mấy tiếng chim kêu tuyết.
Trước điếm, năm canh chó sủa trăng.
Bảng lảng lòng quê khôn chợp được.
Mơ màng cuộc thế cũng cầm bằng.
Canh gà eo óc đêm thanh thả,
Tâm sự này ai có biết chăng?

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 29: Đêm mùa hạ

Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thực oi ả,
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai,
Cảnh này buồn cả dạ.
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giã.

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 30: Khai bút

Ình ịch đêm qua trống các làng,
Ai ai mà chẳng rước xuân sang.
Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén,
Bút mới vui tay thử một hàng.
Ngoài luỹ cắp cô cò cụ Tổng,
Cách ao lẹt đẹt pháo thầy Nhang.
Một năm một tuổi, trời cho tớ,
Tuổi tớ trời cho, tớ lại càng…

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 31: Mậu Thân tự thọ

Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu,
Ngồi buồn ngâm láo mấy câu thơ.
Bạn già lớp trước nay còn mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem mãi mãi thế này ư?

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 32: Khuyên vợ cả

Ta chẳng như ai lối nguyệt hoa
Trước là ngẫm nghĩ nỗi gần xa:
Lấy năm thì cũng dành ngôi chính,
Dấu bẩy càng thêm vững việc nhà.
Mọi việc cửa nhà là việc nó
Mấy con trai gái ấy con ta.
Thôi đừng nghĩ sự chi chi cả:
Chẳng chữ gì hơn chữ thuận hòa!

Thơ hay của Nguyễn Khuyến 33: Mẹ Mốc

So danh giá ai bằng mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc, cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim.
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ,
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại này!

Thơ của Nguyễn Khuyến 34: Ngán đời

Nghĩ đời mà cũng ngán cho đời
Câu cóp làm sao được với trời?
Chép miệng, lớn đầu to cái dại
Phờ râu, chịu đấm mất phần xôi
Được, thua, hơn, kém, lưng hồ rượu
Hay, dở, khen, chê, một trận cười
Dựa gối bên song toan hoá bướm
Gió thu lạnh lẽo, lá vông rơi

Thơ của Nguyễn Khuyến 35: Nghe hát trung thu

Một khúc đêm khuya tiếng đã đầy,
Nửa trên mặt nước nửa tầng mây.
Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước,
Ngán kẻ phương trời chẳng lựa dây.
Bẻ liễu Thành Đài lâu cũng dẹp,
Trồng lan ngõ tối ngát nào hay.
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng,
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.

Thơ của Nguyễn Khuyến 36: Nhất vợ, nhì giời

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười!
Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời?
Khôn đến mẹ m ày là có một,
Khéo như con tạo cũng thời hai.
Giời dẫu yêu vì, nhưng có phận,
Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai.
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ?
Vợ chỉ hơn giời có cái trai!

Thơ của Nguyễn Khuyến 37: Than nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá dường này không nhẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi,
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu.

Thơ của Nguyễn Khuyến 38: Than nợ

Quản chi công nợ có là bao!
Nay đã nên to đến thế nào ?
Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi,
Chục năm chục bảy tính nhiều sao ?
Ra đường kẻ cả dừng chân hỏi,
Vào cửa người sang ngửa mặt chào.
Quyết chí phen này trang trải sạch,
Cho đời rõ mặt cái thằng tao.

Thơ của Nguyễn Khuyến 39: Than già

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay,
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Mái tóc chòm xanh, chòm lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
Còn một nỗi này thêm chán ngắt,
Đi đâu giở những cối cùng chày.

Thơ của Nguyễn Khuyến 40: Thơ khuyên học

Đen thì gần mực, đỏ gần son,
Học lấy cho hay, con hỡi con!
Cái bút, cái nghiên là của quý,
Câu kinh, câu sử, ấy mùi ngon!
Vàng mua chứa để, vàng hay hết,
Chữ bán dư ăn, chữ hãy còn.
Nhờ Phật một mai nên đấng cả,
Bõ công cha mẹ mới là khôn.

Trên đây là bài viết về Top những bài thơ hay nhất của Nguyễn Khuyến? Mong rằng sẽ giúp ích cho các bạn có thêm nhiều kiến thức hay và bổ ích về thơ Nguyễn Khuyến trong kho tàng văn học Việt Nam.

Nguồn: http://gocbao.com

Bình luận
-
Thông báo
Giúp chúng tôi hiểu điều gì đang xảy ra

Có vấn đề gì vậy?